Chiến trường Quảng Đà cũng giải phóng Chi khu Quận lỵ Thượng Đức - nơi án ngữ trực tiếp tây Đà Nẵng, là căn cứ lớn thứ hai của địch. Từ thực trạng đó, cơ quan chiến lược đã rút ra kết luận: chủ lực của ta có thể đánh bại được quân chủ lực ngụy, bằng lực lượng tổng hợp của 3 mũi giáp công.

|
Bộ đội tiến vào giải phóng Tam Kỳ (24-3-1975). Ảnh tư liệu
|
Phong trào đấu tranh chính trị phát triển với nhiều hình thức phong phú như đấu tranh đòi cứu đói, chống dồn dân, đòi bồi thường nhân mạng bị quân ngụy giết hại. Ngoài ra, nhân dân còn nổi dậy chống càn quét, xáp vào lính ngụy đấu tranh ngăn không cho chúng tiếp viện. Nhiều phong trào có đến 800 lượt người đấu tranh đòi xác chồng con, hay như 2.500 lượt người cùng lực lượng vũ trang bao vây bức hàng các chốt điểm của quân ngụy; hàng nghìn đồng bào Bình Lâm, Bình Lãnh tuyệt thực ở khu dồn dân Tứ Hiệp buộc địch phải cho về quê cũ làm ăn… Trong “binh địch vận”, chỉ sáu tháng đầu năm 1974, ta đã phát vào hàng ngũ địch 600.000 truyền đơn, kêu gọi 500 binh sĩ ngụy về với hàng ngũ cách mạng.
Đối với phong trào chiến tranh du kích, sáu tháng đầu năm 1974 đã xây dựng các xã chiến đấu nối liền từ Kỳ Phước, Kỳ An, Kỳ Mỹ dài 10km; nối Kỳ Chánh, Kỳ Phú ra Bình Định, Bình Phú, Thăng Bình thành vùng giải phóng; mở thêm vùng Núi Vú cắt từng đoạn đường Tam Kỳ - Tiên Phước. Giữa năm 1974, anh Năm Công (Võ Chí Công) đi Hà Nội họp Bộ Chính trị để bàn về chủ trương giải phóng miền Nam, anh cho 4 Bí thư Tỉnh ủy đồng bằng là các đồng chí Trần Thận - Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đà, Lê Tấn Tỏa - Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi, Nguyễn Trung Tín - Bí thư Tỉnh ủy Bình Định và tôi - Hoàng Minh Thắng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam, cùng đi.
Căn cứ vào nhận định đánh giá địch tại 2 cuộc họp của Bộ Chính trị, đồng chí Lê Duẩn nhấn mạnh: Thời cơ lịch sử do ta tạo ra, tấn công nổi dậy trong 2 năm 1975-1976 nhưng khi thời cơ đến thì lập tức chớp thời cơ giải phóng miền Nam trong năm 1975.
|
Trong suốt quãng thời gian họp Bộ Chính trị mở rộng, tối nào về anh Năm và anh Hai Mạnh cũng phổ biến và trao đổi với chúng tôi về phương án tấn công và nổi dậy của các địa phương. Tại cuộc họp, vấn đề gay cấn và tốn nhiều thời gian nhất là “Ta đánh bại quân ngụy Sài Gòn thì Mỹ có đưa quân trở lại Việt Nam hay không?”. Nhiều ý kiến các đồng chí lãnh đạo chủ chốt nhận định: nước Mỹ còn gặp nhiều bê bối, chưa dám nhúng tay vào Việt Nam lần nữa, cho kẹo Mỹ cũng không trở lại. Sau những ngày thảo luận, đồng chí Lê Duẩn kết luận: đề nghị Bộ Chính trị ra nghị quyết phương án tấn công nổi dậy giải phóng miền Nam trong 2 năm: năm 1975 tấn công nổi dậy vùng nông thôn đồng bằng, cắt đứt giao thông địch, bao vây cô lập thành phố, nhất là 2 thành phố lớn Sài Gòn và Đà Nẵng; năm 1976 tấn công nổi dậy giải phóng các thành phố còn lại, nhất là Sài Gòn - sào huyệt cuối cùng của chế độ Nguyễn Văn Thiệu.
Thực tế ở chiến trường Tam Kỳ và Đà Nẵng đã diễn ra đúng như phân tích của đồng chí Lê Duẫn, khi ta diệt gọn từng sư đoàn chủ lực ngụy lực lượng co cụm về Đà Nẵng 100.000 tên, nhân dân đã nổi dậy đấu tranh hù dọa làm tan rã tại chỗ.
|
Điểm đột phá chiến dịch mở màn đánh vào đâu? Nhiều ý kiến cho rằng sẽ đánh vào Tây Nguyên. Nhưng vấn đề gây tranh luận là mở màn ở Nam hay Bắc Tây Nguyên. Cũng có ý kiến cho rằng nên đánh vào Pleiku, vì nơi đây đang có nhiều điều kiện thuận lợi hơn, duy có một thực tế trở ngại là trên đường 14 còn cứ điểm Đak-Pết do một tiểu đoàn Bảo an chốt giữ. Ý kiến cho rằng điểm yếu của địch là ở Đông Nam Bộ sát nách Sài Gòn cũng được đưa ra bàn thảo. Cuối cùng, nhiều ý kiến đồng tình với đề nghị đột phá vào Nam Tây Nguyên, cụ thể là Buôn Ma Thuột và phương án này đã được nhất trí cao.
Tuy nhiên, một vấn đề khác mà cần nhiều ý kiến đóng góp để suy tính kỹ là: địch có một triệu quân ngụy, mà cơ số đạn ta còn rất ít, nhất là đạn pháo. Đồng chí Lê Duẩn phân tích, thực tế trên chiến trường, ta cần tiêu diệt một số đơn vị chủ lực quan trọng, từng Sư đoàn quân ngụy, kết hợp với tấn công chính trị, binh vận của nhân dân làm cho địch tan rã tại chỗ. Từ đó giải phóng từng vùng rộng lớn, bao gồm các căn cứ hậu cần của địch, vừa triệt tiêu sức chiến đấu của địch, vừa thu đạn dược tăng cường sức chiến đấu của ta. Với phương châm ấy, chúng ta có đủ điều kiện thế và lực để giành thắng lợi cuối cùng.
Trên đường về Quân khu, anh Năm Công và anh Hai Mạnh gọi tôi và anh Lê Tấn Tỏa giao nhiệm vụ: Sau khi giải phóng thị xã Tam Kỳ và Quảng Ngãi, hai anh phải giữ đoạn đường 120km trong một năm để ta có điều kiện giải phóng Đà Nẵng và toàn Khu 5. Tôi nhận nhiệm vụ này, tâm trạng vừa mừng vừa lo nhưng trong tôi vững chắc một niềm tin rằng thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ đang đến gần. Cùng với chiếc xe u-oát đít tròn chở đầy súng đạn, tôi và đồng chí Nguyễn Chính - Chánh văn phòng chạy suốt ngày đêm trở lại chiến trường. Đến đầu tháng 2 năm 1975 thì về đến cơ quan Tỉnh ủy đóng ở thôn 1 - Phước Sơn. Về đến nơi nghe Văn phòng Tỉnh ủy báo cáo: chủ lực Quân khu đánh chiếm 2 chi khu quận lỵ Phước Lâm - Tiên Phước, 3 tiểu đoàn bộ binh, hỏa lực của tỉnh đánh địch phía tây tỉnh đường Quảng Tín.
Hoàng Minh Thắng Nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam
|